Suy cách đọc chữ Hán từ âm Hán-Việt → âm Hàn, và các quy tắc biến âm (음운 변화)
Khi patchim (받침) gặp âm tiết sau, cách đọc sẽ biến đổi. Đây là phần cốt lõi của phát âm tiếng Hàn. Bấm 🔊 để nghe cách đọc đúng.
Dù được viết bằng nhiều phụ âm khác nhau, khi đứng ở vị trí patchim (âm cuối) và không có âm tiết nguyên âm theo sau, các phụ âm sẽ được 'quy' về một trong 7 âm đại diện gần nhất.
Khi patchim đứng trước một âm tiết bắt đầu bằng nguyên âm (chữ ㅇ đầu âm tiết là âm câm), phụ âm patchim sẽ chuyển sang làm phụ âm đầu của âm tiết phía sau.
Các phụ âm tắc ㄱ, ㄷ, ㅂ khi đứng trước âm mũi ㄴ hoặc ㅁ sẽ bị 'mũi hóa', đọc thành âm mũi tương ứng cùng vị trí.
Khi ㄴ đứng cạnh ㄹ (dù ㄴ đứng trước hay sau), ㄴ sẽ bị đồng hóa thành ㄹ, tạo thành cụm [ㄹㄹ].
Khi các phụ âm thường ㄱ, ㄷ, ㅂ, ㅅ, ㅈ đứng ngay sau patchim có âm đại diện là ㄱ, ㄷ, ㅂ, chúng sẽ được đọc thành âm căng (된소리).
Khi ㅎ gặp các phụ âm ㄱ, ㄷ, ㅂ, ㅈ (dù ㅎ đứng trước hay sau), chúng kết hợp và đọc thành các âm bật hơi ㅋ, ㅌ, ㅍ, ㅊ.
Khi patchim ㄷ, ㅌ gặp nguyên âm 'ㅣ' (이) hoặc 히 ở âm tiết sau, chúng được đọc thành các âm khẩu cái 지, 치.
Khi patchim ㅎ (hoặc ㄶ, ㅀ) đứng trước một âm tiết bắt đầu bằng nguyên âm, âm ㅎ sẽ bị lược bỏ hoàn toàn, không phát âm.
Với từ gốc Hán, phụ âm ㄹ hoặc ㄴ khi đứng ở đầu từ sẽ bị biến đổi cách viết và cách đọc cho dễ phát âm. Đây là quy tắc chính tả áp dụng ở Hàn Quốc (Bắc Triều Tiên không áp dụng).
Là quy tắc về cách viết chuẩn, không phải biến âm khi nói trong câu.
Trong từ ghép, khi âm tiết trước có patchim và âm tiết sau bắt đầu bằng 이, 야, 여, 요, 유, thường sẽ thêm âm ㄴ vào đầu âm tiết sau (và có thể kéo theo biến âm khác).
Khi patchim là cụm 2 phụ âm và không có nguyên âm theo sau để nối âm, chỉ một trong hai phụ âm được phát âm, tùy theo từng cụm cụ thể.